Danh mục
Đánh giá 1195 0 0 Quay lại

SƠ LƯỢC VỀ NGUỒN GỐC CỦA KARATEDO

 

              Cho đến nay, các tài liệu nghiên cứu nguồn gốc chính xác  của Karate vẫn chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, theo quan điểm truyền thống, đa phần được các chuyên gia võ thuật thế giới đều thừa nhận: Karate được ra đời tại Ấn Độ gắn liền với đạo Thiền đó là Thiền tông (Chán zòng, Ti’an, Dhyana, Zen hoặc Hayayoga). Thiền khởi nguyên từ một phương pháp tu trí của các tông phái triết học Á Đông thời thượng cổ. Nó được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni Buddha) - Người khai sáng ra Phật giáo sử dụng như một phương cách quán nội, tư duy đặc biệt để đạt tới chân lý.

              Từ buổi bình minh, khi con người còn săn bắt hái lượm cũng đã biết võ thuật chiến đấu để sinh tồn nên sau này, thông thường các nhà tu hành đều biết võ nghệ để tự vệ trước sự tấn công của thú dữ và kẻ cướp. Thái tử Sĩ Đạt Đa (Gautama Sidartha) cũng từng là chiến binh xuất sắc trước khi trở thành Đức Phật. Khi sáng lập Phật giáo, ông cũng nhận thấy rằng không hề có sự mâu thuẫn nào khi một người hiền lành và giàu lòng vị tha cũng rất giỏi trong chiến đấu. Có rất nhiều giả thuyết nói về nguồn gốc của Karate, trong đó có nhiều huyền thoại hoang đường nhưng giả thuyết về Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) là có sức thuyết phục hơn cả. Giả thuyết này cho rằng nguyên thủy của Karate là những kỹ thuật chiến đấu bằng tay không do người Ấn Độ sáng tạo ra từ trước Công nguyên. Giới võ lâm Trung Quốc cũng thừa nhận võ thuật của mình khởi nguyên từ Ấn Độ - cái nôi của những võ phái cổ nhất tương truyền nó đã có lịch sử rất lâu đời hàng vạn năm như môn võ Kalaripayattu, Vajra Muskti, Varma Kalai, v.v…

             Theo các nhà nghiên cứu võ thuật thế giới, vào đầu thế kỷ thứ VI, năm 520 (sau Công nguyên) vị tổ thứ 28 của Phật giáo tên là Daruma tức Bồ Đề Đạt Ma (pháp danh Bodhidharma) (  ), đã chu du năm miền trong sáu mươi năm ở Ấn Độ để truyền đạo Thiền Phật giáo. Sau khi trở về cung giáo hóa hoàng tộc một thời gian, ông xuống thuyền đi Trung Quốc. Bồ Đề Đạt Ma đã phải mất ba năm trên thuyền mới cập bến Quảng Châu đến Trung Quốc vào đời nhà Lương năm Thiên Giám thứ tư để truyền bá đạo Thiền Phật giáo. Sau khi hội kiến, vua Võ Đế không hiểu được diệu đạo, Bồ Đề Đạt Ma rời nhà Lương vượt dòng Trường giang (bằng phương pháp đề khí khinh thân trên một cọng cỏ lau) vân du lên miền Giang Bắc. Ông đã dừng lại dạy thiền và võ thuật tại chùa Thiếu Lâm (Shaolin szu) tiếng Nhật là Shorin ji - một ngôi chùa ở Tỉnh Hà Nam (Henan), Trung Quốc (chùa này được xây dựng năm thứ 20 nhà Bắc Ngụy năm 497 trong dãy Tung Sơn, mặt đối với núi Thiếu Thất, lưng tựa Ngũ Nhũ Phong). Từ đó, nó có tên gọi là Shorin Kempo (võ Thiếu Lâm). Các nghệ thuật chiến đấu Trung Quốc đã được ghi chép lại từ 3000 năm trước Công nguyên khởi phát từ Bồ Đề Đạt Ma - Người sáng lập môn phái Kempo Trung Quốc. Ông đã tinh tuyển, hòa trộn với võ bản địa, bổ sung thêm các bài tập luyện ý, khí công và thiền khiến cho môn này trở nên phong phú hơn. Lúc bấy giờ, ông nhận thấy rằng người dân ở đây vì không đủ nhận thức, khó nắm bắt ngay được triết lý phức tạp của Phật giáo Ấn Độ nên đã nghĩ cách truyền giáo cho họ dễ hiểu và tự nhiên hơn. Những bài tập về trí não được thể hiện trong các buổi tập về đạo Thiền đối với những người nông dân là quá khó. Họ chán chường vì rằng trí não vẫn luôn luôn để ở đâu đó. Vì vậy, Bồ Đề Đạt Ma bằng trực giác của mình ông nhận ra muốn đưa được ánh sáng đạo Thiền vào họ thì tốt hơn hết là dạy họ cách học những bài tập sử dụng cơ bắp. Đối với những người nông dân, họ có phản ứng với cơ thể nhưng lại không đối chọi với đầu óc của mình. Bồ Đề Đạt Ma đã đưa ra một loạt động tác di chuyển và được thực hành gần như hoàn hảo bên cạnh một bài tập thở (Hô hấp Đan Điền) để giữ gìn sức khỏe và giúp đệ tử vượt qua trở ngại, khó khăn khi đi truyền đạo. Sau đó, ông kết hợp giữa hai môn võ thuật truyền thống dân gian của Ấn Độ và Trung Quốc để tổ chức một buổi biểu diễn đã mang lại nhiều điều sáng tỏ. Một lần nọ, ông đạt được điều này và tự biết bên trong của sự mở mang sáng tỏ này là gì. Bồ Đề Đạt Ma đã có thể áp dụng và thực hành cảm nghĩ này vào cuộc sống hằng ngày của mình. Thậm chí bài tập này đã được đánh dấu rất lớn vào việc mang lại nhiều điều mở mang sáng tỏ cho người tập đạo Thiền. Nó trở thành nền tảng Chuan fa (có nghĩa là bàn tay nắm để chiến đấu và mở để chữa bệnh). Người Trung Quốc gọi là Quyền Pháp cũng có nghĩa là Con đường đầu tiên hay Kung fu (thành tựu của con người), người Nhật Bản gọi là Kempo có nghĩa là luật của nắm tay. Bài tập này còn được gọi là môn võ tự vệ tay không (Karate), bởi vì những chuyển động bằng tay không của nó có vẻ như đơn giản và vô nghĩa. Ngày nay, phần lớn những người đề xướng Karate sau đó không còn quan tâm đến nó nữa. Nhưng may mắn nền tảng Chuan fa được một số ít võ sư Trung Quốc hiểu tầm quan trọng của những bài tập này. Tuy nhiên, thời gian qua đi Thiền và Karate trở nên ít liên kết với nhau vì những người tu hành đạo Phật cho rằng họ không cần phải bảo vệ, mọi người đều chấp nhận họ như là những người linh thiêng. Từ đó, việc tập luyện Karate dần dần không được coi trọng dù nó có một mối quan hệ rất mật thiết gắn bó với đạo của họ. Một số ít võ sư đã truyền bài tập này cho môn sinh của họ và chỉ nói những bài tập này là nền tảng của Karate. Họ tin tưởng học trò của mình sau khi trải nghiệm sẽ hiểu sự quan trọng của nó ngay trong bản thân của người tập mà không cần phải hỏi tại sao. Tuy nhiên, những nguyên tắc này đã thất bại khi đưa bài tập vào theo phương pháp được cho là hoàn thiện. Thực ra Karate được thể hiện qua trí óc nhưng vẫn chưa hoàn toàn nếu không duy trì tốt, sẽ không thể đạt được sự vô thức này bằng suy nghĩ. Cơ thể của bạn có thể dự đoán được tất cả trong số sức mạnh của nó ở một đòn đấm, cú đá hay một sự tấn công bất ngờ là một trong số những nguyên tắc chính tạo nên hiệu quả của Karate. Tuy nhiên, việc thực hiện sẽ không kết quả nếu trí óc không hề nghĩ đến những dự đoán này. Trong Karate và trong cuộc sống: Linh hồn và thể xác không thể tách rời nhau, bởi vì chúng khó mà cưỡng lại được với những đòi hỏi của cơ thể và có mối liên quan mật thiết giữa cơ thể và trí óc. Các bài tập mà Bồ Đề Đạt Ma đã sáng tác ra tại Trung Quốc không chỉ là nền tảng của Karate mà cho gần như tất cả các môn võ nghệ thuật ngày nay. Nó được dự định như là phương pháp chiến đấu nhưng có thể đạt được giác ngộ. Như vậy, Thủy tổ của môn võ Karatedo là Bồ Đề Đạt Ma. Sau đó, những kỹ thuật này được các võ tăng qua nhiều thế hệ ở chùa Thiếu Lâm hoàn thiện trở thành Thiếu Lâm Quyền Pháp - gốc của môn võ Thiếu Lâm ngày nay. Để tăng thêm phần huyền bí, các thế hệ tiếp nối trong đó có các Đạo gia, nhà văn viết truyện võ hiệp ở Trung Quốc đã hư cấu (fiction), tiểu thuyết hóa.

             Cũng có giả thuyết cho rằng môn võ cổ này phổ biến mạnh dưới thời nhà Minh (1368-1649) ở Trung Quốc nhưng rồi bị đàn áp dưới thời nhà Thanh (1644-1912) vì được một tổ chức bí mật sử dụng trong phong trào phế Thanh phục Minh. Sau sự kiện Càn Long thứ 28 tức năm 1763 hỏa thiêu Thiếu Lâm tự, chỉ còn năm cao đồ xuất sắc của Nam Thiếu Lâm sống sót đó là Chí Thiện Thiền Sư, Ngũ Mai Lão Ni, Bạch Mi Đạo Nhân, Phùng Đạo Đức và Miêu Hiển. Các kỹ thuật Thiếu Lâm cổ theo chân các nhà sư chạy trốn truyền ra khắp nơi và chia thành nhiều nhánh nhỏ rồi đến đảo Okinawa ở cực Nam Nhật Bản khi bang giao giữa hai nước còn rất thắm thiết. Điều này có thể chứng tỏ võ Thiếu Lâm cổ đã được truyền đến đảo Okinawa và ở mỗi tỉnh lại có những biến dị nhỏ nhưng được gọi chung là Okinawa - Te (Xung Thằng Thủ), trong đó Te có nghĩa là cánh tay. Trong thực tế, những bước đầu tiên của Shorin Kempo đều do công lao của các nhà sư qua nhiều năm khổ luyện và nghiên cứu. Cuối cùng, bằng những kiến thức về y học, họ đã khám phá ra các huyệt đạo trọng yếu trên cơ thể con người, không những dùng để chữa bệnh mà có thể dùng làm mục tiêu cho các đòn đánh Kempo đạt hiệu quả cao nhất. Như vậy từ Ấn Độ sang Trung Quốc, Kempo được truyền bá lên phía Bắc đến Mông Cổ sang phía Đông đến Hàn Quốc và phía Đông Nam đến đảo Okinawa. Sau đó, nó được truyền sang Nhật Bản và trở nên vô cùng nổi tiếng sau kỷ nguyên Kamakura (khoảng năm 1200 sau Công nguyên). Các chiến binh Samurai đã tiếp nhận môn võ này một cách đặc biệt cả dưới hình thức các đòn thế chiến đấu cũng như triết lý của nó.

 

       1. Thiền và Karate:

Ngày xưa, học võ là một nhu cầu rất cần thiết chứ không phải là bộ môn thể thao nên nông dân, binh lính và những nhà tu hành ai cũng đều có thể học võ và giỏi võ. Trong môn võ Karate những nguyên lý của đạo Thiền đã được ứng dụng để giúp hoàn hảo các chuyển động tự vệ phối hợp giữa trí óc và thân thể. Người tập tư tưởng được tập trung thông suốt dẫn đến hiệu quả trong chiến đấu. Theo thuyết Trung Quán Tông (Madhiyamaka) của Nagarjuna (Long Thọ) (150 - 250) - Tổ sư thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ: Vạn vật đều mang tính chất tương đối và không có bản tính tự tại. Khi liên hệ với các sự vật khác thì một sự vật nào đó mới có ý nghĩa tương đối. Karate liên hệ với thuyết Trung Quán Tông dựa trên biến tượng Sunyata (điều kiện tính). Karate chỉ được hình thành khi các động tác, tư thế thích nghi với “điều kiện tính” tức là hòa hợp được với tự nhiên. Karate chỉ thuần túy phản đòn khi bị tấn công tùy thuộc vào số lượng đòn mà đối phương tung ra. Phản ứng như vậy được xem là không do ý chí. Do đó, nó cũng tùy đáp ứng mục đích “tùy nghi” trong ý thức Sunyata của Phật giáo. Như vậy, Karate chỉ xuất hiện khi các động tác, tư thế thích hợp với Sunyata. Trong nghệ thuật luyện quyền, người môn sinh Karate còn luyện tập nghệ thuật Hitsuzendo (Thư pháp thiền) và Shodo (Thư đạo) để tìm nhắc lại cái Tâm ban đầu “Bản lai diện mục” (Original face) được “Tràn ngập năng lực từ cái nhìn giác ngộ”. Lúc thực hành, họ giữ cho tinh thần không xao động, không phân tán bởi các yếu tố bên ngoài. Thân có tịnh thì tâm mới an, bố cục mới hài hòa hợp lý. Một khi bút đã chấm mực thì nét không thể run rẩy hoặc dừng nửa chừng, vì nó sẽ làm bút khí ngưng trệ, tác phẩm sẽ không giá trị. Họ tập để không còn những chướng ngại trong tâm khi chiến đấu mới hiệu quả. Triết lý sống của thiền dựa trên quan điểm về sự hướng nội của mỗi cá nhân. Sống theo triết lý thiền là sống với “Cái thực tại”, bỏ đi những căng thẳng, lo âu của quá khứ và tương lai chỉ tập trung vào hiện tại, hoạt động đang làm. Thiền là lãnh địa của tâm năng trực giác, là ngôn ngữ của vô ngôn. Thiền là cái thế giới đang là, mọi sự vật, hiện tượng, tâm hay cảnh luôn đang trôi chảy, tất cả đều chuyển động biến đổi. Khi chúng ta đang sống thì các ý nghĩ khởi lên là điều tự nhiên, ngay cả lúc tọa thiền hay thiền hành cũng vậy. Điều quan trọng là để chúng tự đến và đi mà ta không theo đuổi chúng hoặc dẹp trừ chúng. Theo Thiền sư Kosho Uchiyama thuộc dòng thiền Soto (Tào Động), “Niệm khởi” là điều tự nhiên. Nhưng khi ta bám vào niệm đó, chạy theo chúng thì ta đang suy nghĩ. Nghĩ về việc gì là dùng ý nghĩ để bám vào việc đó. Không bám vào việc đó tức là buông xả. Thí dụ niệm “A” (đóa hoa) khởi lên khi ta nhìn thấy đóa hoa. Nếu có niệm “A1” (đóa hoa này đẹp) tiếp theo sau thì đó là suy nghĩ, dính mắc. Sau niệm A1 sẽ lại tiếp tục A2, A3, v.v… Tức là dù có niệm A nhưng nếu không có suy nghĩ nào tiếp tục thì niệm A sẽ tự biến đi ta không dính mắc vào nó nữa. Như vậy là chúng ta buông xả suy nghĩ. Trạng thái biến đổi trong tâm chúng ta cũng như trong thiên nhiên có lúc trời xanh quang đãng, có lúc giông tố mưa bão… Nó tự đến rồi tự đi như nhà thơ thiền Matsuo Basho viết: “Ao sâu / con ếch nhảy vào / vang tiếng nước xao”. Niệm vẫn luôn tự khởi do hoạt động của bộ óc con người trong đời sống hằng ngày, nó vẫn cần có những sự suy tính, phân biệt như đói thì nghĩ đến ăn, mệt thì nghĩ đến ngủ. Niệm có khởi thì chỉ cần không chạy theo chúng, không dính mắc, không nắm chặt lấy chúng mà không cần phải lo diệt trừ chúng. Ngồi thiền là quan tâm đến những hoạt động đó của bộ óc, hóa giải hiện tượng không để vào tiềm thức. Thiền không phải là hữu niệm hay vô niệm. Trong thiên nhiên bất tận, thiền dẫn dắt con người tìm về bản nguyên của mình. Muốn thế, việc trước nhất là phải phá vỡ bức tường ngăn cách giả tạo để nối liền cõi ý thức và vô thức, làm sống dậy tinh lực nguyên thủy. Thiền là một phương pháp luyện thân, luyện tâm và luyện tinh thần đã có từ rất xa xưa, sau đó Đức Thích Ca Mâu Ni đã sử dụng trở thành Phương pháp Quán nội (Vipassana), khai ngộ tiếp cận chân lý. Thiền là một trong những pháp môn tu tập của Phật giáo. Đứng về phương diện kinh điển đó là pháp môn “Bất nhị”, là Trí Bát Nhã (Prajnà paramita).

 

Về cơ bản của đạo Thiền, chúng ta có thể hiểu con đường truyền thừa là một con đường đặc biệt: truyền thừa tâm ấn (Tâm - Tâm). Tương truyền ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, khoảng trên 2.500 năm ở núi Linh Thướu (Radjgir) có lần Ngài không giảng Pháp như mọi ngày, tay cầm một đóa hoa sen đưa lên và không nói. Các đệ tử ngơ ngác không ai hiểu gì chỉ có ông Tôn giả Đại Ca Diếp (Mahakàsyapa) lặng lẽ mỉm cười bừng ngộ lời dạy của thầy mình (niêm hoa vi tiếu). Kệ (sutta) chính là cái chân như được hình tượng hóa trên bề mặt ngôn ngữ (Tâm - Tượng - Tâm). Do vậy, lĩnh ngộ được một bài kệ không thể lấy logic ngôn ngữ hay hình ảnh để soi xét mà phải qua một quá trình tham thiền bằng trực cảm tâm linh. Đó là ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã sử dụng pháp môn lấy tâm truyền tâm, chứng ngộ vô văn tự để phát triển tuệ giác vốn có từ tâm. Từ đó, Tôn giả Đại Ca Diếp được truyền tâm ấn, sau đó là A Nan Đà, rồi tiếp tục truyền thừa đến đời thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ là Bồ Đề Đạt Ma. Năm 529, ngày mồng chín tháng mười năm Bính Thìn nhằm niên hiệu Đại Thông năm thứ hai triều nhà Lương, Bồ Đề Đạt Ma tịch diệt sau khi đã hoàn thành truyền bá đạo Thiền ở Trung Quốc.

 

           Thời gian Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Quốc, pháp môn tu tập của ông rất khó nghiên cứu mà phải chứng nghiệm trực tiếp (Giáo ngoại biệt truyền, Bất lập văn tự, Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật). Tương truyền ở chùa Thiếu Lâm ông đã ngồi thiền suốt chín năm quay mặt vào vách đá, và cũng tại đây Huệ Khả (Thần Quang) chặt đứt cánh tay trái đứng dưới tuyết giá cầu đạo. Từ đó y bát dòng thiền đã được truyền thừa Nhị tổ là Huệ Khả, Tam tổ là Tăng Xán, Tứ tổ là Đạo Tín, Ngũ tổ là Hoằng Nhẫn. Đến thời Lục tổ Huệ Năng đời nhà Đường thì Thiền tông đã phát triển rộng rãi, mang lại cho người tập một luồng gió mới. Bồ Đề Đạt Ma không những truyền bá về đạo Thiền và nghệ thuật uống trà, những hoạ sĩ của thời kỳ này đã miêu tả các đặc tính của khí công Phật giáo cùng với những lời diễn tả và quan điểm về môn võ Karate. Môn võ này được dạy như là một phần huấn luyện khí công của Phật giáo, chứa đựng các yếu tố về Karate mà nó đã được người ta tập luyện rất nhiều năm về trước. Đó là các dạng của chủ nghĩa Tao, chủ nghĩa La Mã, chủ nghĩa Thụ Động, chủ nghĩa Khoái Lạc và các tôn giáo huyền bí khác hoặc những triết lý thuộc về quá khứ. Đạo Thiền được ngưỡng mộ nhất đối với các tôn giáo này và đã được phát triển rộng rãi. Tại đây, Thiền và triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm nền văn hóa Trung Quốc, kết hợp với những tư tưởng của Khổng Mạnh và Lão Trang trở thành một trường phái lớn mang bản sắc văn hóa bản địa của dân tộc này. Vì thế, Bồ Đề Đạt Ma được xem là vị tổ đầu tiên của Thiền tông Trung Quốc. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ VII thời kỳ này ở Trung Quốc, Phật giáo có rất nhiều tông phái và đã nhiều lần tranh cãi. Để đối lại với khuynh hướng triết lý hóa của các tông phái khác, các Thiền sư đã chủ trương không xây dựng nghi thức tôn giáo, lý luận về giáo pháp mà chỉ quan tâm tới kinh nghiệm chứng ngộ. Người tập trực ngộ để nhận ra được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ tức là khi đạt được Phật tánh của mình, sự giác ngộ này là Thiền. Giai đoạn này, người có công phát triển thiền trở thành một tôn giáo phổ biến rộng rãi tại Trung Quốc là Thiền sư Huệ Năng (638-713) - Vị tổ thứ sáu của Đạo Thiền. Nếu Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma đã có công đặt nền móng cho ngôi nhà Thiền tông thì tổ Huệ Năng được coi như người đã xây cất nên ngôi nhà kỳ diệu đó để còn lưu truyền đến ngày nay. Nội dung cơ bản của Thiền tông thời kỳ này là khuyên mọi người tập ngồi thiền, tìm về với cái bản thể, cái tự nhiên (gọi là kiến tính để thành Phật).

                            Đến thời Đường và đầu thời Tống (618-907), thiền tại Trung Quốc được chia làm nhiều tông phái. Tiêu biểu là Ngũ gia Thất tông (năm phái bảy tông) thuộc hai hệ thống khác nhau: hệ thống Nam Nhạc có Lâm Tế và Quy Ngưỡng, hệ thống Thanh Nguyên có Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn, gọi là Thiền Tông Ngũ Gia và hai nhánh phái của tông Lâm Tế là phái Dương Kỳ và phái Hoàng Long. Thời kỳ này, Thiền không chỉ là một tôn giáo phổ biến mà còn trở thành một triết lý sống có ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội. Đây cũng là thời kỳ đạo Thiền được truyền sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Mặc dù trước đó, từ thế kỷ thứ III thiền đã được truyền sang Việt Nam, nhưng Thiền Trung Quốc thì phải đến thời kỳ này mới được phổ biến tại Việt Nam.

                             Thiền đến Nhật Bản từ thời Heian (794-1185) và nhanh chóng trở thành một tông phái Phật giáo được nhiều người ủng hộ. Thiền Nhật Bản rất nhiều dòng nhưng có hai dòng thiền chính là Lâm Tế (Rinzai) và Tào Động (Soto) được truyền từ Trung Quốc sang có chùa chiền, thiền viện được xây dựng ở khắp nơi. Thế kỷ XIII, tông Lâm Tế bắt đầu từ thiền sư Myoan Eisai (Minh Am Vinh Tây) (1141-1215), trung tâm là chùa Kenninji (Kiến Nhân tự) ở kinh đô chuyên tham cứu công án thiền đã có sẵn đồng thời dung hợp dòng thiền Thiên Thai và Chơn Ngôn cùng nghệ thuật uống trà Nhật Bản. Bên cạnh đó, tông phái Tào Động do Thiền sư Dogen Kigen (1200-1253) cũng đã phát triển, thường gọi là Eihei Dogen (Đạo Nguyên Hy Huyền) Sáng tổ tông Tào Động tại Nhật Bản. Tông phái này không xác lập hệ thống lý thuyết Phật học mà chủ yếu là hành thiền để tìm lại tâm mình, Phật tính cho chính mình và ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong mọi tầng lớp xã hội nhất là giới võ sĩ (Samurai) ở Kamakura. Họ tu tập theo dòng thiền này bởi nó không đòi hỏi nghi thức rườm rà và kinh điển như nhiều tông phái khác, tổ đình là thiền viện Daibutsu, sau này đổi tên là chùa Eiheiji (Vĩnh Bình tự). Tông Tào Động cũng được biết nhiều bởi nhiều thiền sư cũng là võ sư Karate Nhật Bản đã tới Hoa Kỳ để truyền pháp, mở thiền viện, đạo đường truyền bá đạo Thiền và Karatedo, cùng lúc với nhiều tác phẩm được dịch ra tiếng Anh. Hiện nay tông Tào Động tại Nhật Bản có khoảng 15.000 ngôi thiền viện và 8 triệu Phật tử. Tại Việt Nam tông Tào Động được truyền sang từ đầu thế kỷ XVII do Thiền sư Thủy Nguyệt, hiệu Thông Giác (1637-1704) đã từ miền Bắc Việt Nam qua Trung Quốc năm 1644 và thọ pháp với thiền sư Nhất Cú Tri Giáo, đời thứ 35 tông Tào Động. Sư được ấn chứng là tổ thứ 36 và được phép về Việt Nam truyền tông Tào Động. Tông này do hai thiền sư Trung Quốc sáng lập, vị khai tổ là Lương Giới Động Sơn (807- 869) và đệ tử là Tào Sơn Bổn Tịch (840-901). Danh từ Tào Động là do Tào Sơn và Động Sơn nhập lại. Lương Giới Động Sơn là đệ tử của Vân Nham, thuộc dòng Hành Tư Thanh Nguyên là một trong số đệ tử của Lục tổ Huệ Năng. Tông Tào Động sau này còn được gọi là Thiền Mặc Chiếu do thiền sư Tan Sia Tzu Chun (Đan Hà Tử Thuần) (1064-1117) khởi xướng nhưng tông này không phát triển mạnh ở Trung Quốc bởi không có đệ tử nổi tiếng. Sau đó, tông Tào Động rất nổi tiếng và ngày nay vẫn còn phát triển mạnh từ khi Eihei Dogen qua Trung Quốc thọ pháp về truyền bá tại Nhật Bản với một phong cách đặc biệt. Dogen không thích sự hoa mỹ, sư từ giã thiền viện Kenninji đến trú tại thiền viện Anyo In. Sau đó, sư đến thiền viện Koshoji và lập thiền đường để huấn luyện tăng ni cùng các cư sĩ. Vì nhu cầu của tăng sĩ nên Dogen phải lập một thiền đường vừa phải để có chỗ tu tập chứ ông luôn nhắc nhở môn đồ: “Xây chùa to, đúc tượng lớn, dựng tháp nguy nga, tráng lệ không phải là chỗ dẫn tới giác ngộ. Dù ở trong một chòi nhỏ, dưới gốc cây mà chúng ta hiểu được lời Phật dạy và hành trì theo đúng Pháp thì Phật giáo mới thịnh hành được”. Hoặc “Nên nhìn Đức Phật như một con người đã giác ngộ, đã bỏ được tham, sân, si, chứ đừng nhìn Ngài như vị thần linh hay một đấng cứu thế” Theo Dogen, chúng ta không nên thế tục hóa bằng hình thức lễ nhạc với tính chất trình diễn sân khấu mang màu sắc phàm tục, mê tín dị đoan vụ vào hình tướng. Nó không giúp con người khai thị được Phật tánh trong chính mình. Bởi Phật giáo không tùy thuộc vào hình tướng bề ngoài để nói lên sự tương hợp với khả năng hiểu đạo, hành đạo và chứng nghiệm. Trong thời gian ở thiền viện Koshoji, Eihei Dogen viết rất nhiều bài giảng về Thiền tông nên số đệ tử càng ngày đông đảo. Sư viết khoảng 120 bài giảng và 8 tác phẩm chính. Tác phẩm của Dogen được coi là xuất sắc trong nền văn học Phật giáo và cả ngay trong nền văn học Nhật Bản đó là kiệt tác: Shobogenzo (Chánh Pháp Nhãn Tạng) mà sư đã bỏ ra hai mươi lăm năm để hoàn thành. Dogen luôn chủ trương việc tọa thiền là cách tu hành tốt nhất để theo đúng với chánh pháp của Đức Phật. Ông cho rằng việc tu tập và giác ngộ là một, nó không phải là phương tiện để đạt cứu cánh là giác ngộ. Nếu việc giác ngộ chỉ đạt được sau khi tu hành thì không thể nói đó là bản nguyên được. Đó là cái “Bản lai diện mục”, cái tự tánh mà tổ Huệ Năng nói trong Pháp Bảo Đàn Kinh, cũng còn được gọi là Phật tánh. Sư cho rằng Đức Phật Thích Ca đã ngồi thiền trong sáu năm, còn Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma quay mặt vào vách đá tham thiền trong chín năm mới đạt tới giác ngộ viên mãn chứ chạy theo ngôn ngữ để có kiến giải tri thức thì không chứng đắc được. Giai đoạn này tông phái Tào Động rất nổi tiếng và bị một số người ganh tị làm ảnh hưởng thiền viện Koshoji. Eihei Dogen cùng một số đệ tử dời đến một ngôi thiền viện nhỏ là Yoshimine - Dera. Sau đó, nhờ sự bảo trợ của quận trưởng Yoshishige - người có thế lực và rất sùng bái đạo Phật cho xây thiền viện Daibutsu để sư trụ trì. Sau này, nó được đổi tên là thiền viện Eiheiji (Vĩnh Bình) là một trong hai tổ đình của tông Tào Động và một trong những ngôi chùa Thiền tông lớn nhất ở Nhật Bản. Eihei Dogen viên tịch năm 53 tuổi tại Kyoto. Thiền ở Nhật Bản không đơn thuần chỉ là một tôn giáo hay một phương pháp tu tập mà trở thành một lối tư duy phổ biến, một con đường tìm đến sự tĩnh tại trong tâm hồn của người Nhật. Tư duy thiền được sử dụng trong rất nhiều hoạt động khác nhau. Nghệ thuật thiền được áp dụng phổ biến để làm công cụ mô tả những kinh nghiệm hay chứng nghiệm, cũng như để tạo ra môi trường phù hợp cho việc tu thiền, học thiền và phổ biến triết lý thiền. Thiền tông không chỉ giới hạn trong giới Samurai và các nhà tu hành mà còn ảnh hưởng lớn lao đến văn hóa dân tộc, mang sắc thái hoàn toàn Nhật Bản. Nó bám rễ ở đây và đã sản sinh một nền văn hóa thiền như nghệ thuật uống trà, thư đạo, ngắm hoa, chơi vườn cảnh…

          Thiền được truyền vào Việt Nam rất sớm, từ thế kỷ thứ III do Thiền sư Khương Tăng Hội (K’angsenhoui) là Sáng tổ của Thiền học  Việt Nam, gốc người Iran (Sogdiane). Ông đã truyền bá đạo Thiền tại chùa Diên Ứng - Luy Lâu (Chùa Dâu, Pháp Vân - Hà Bắc). Với nhiều trước thuật, Khương Tăng Hội đã hòa nhập dòng thiền của ông với Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) - Người Ấn Độ học trò của Tam tổ Tăng Xán (thiền Trung Quốc). Cuối thế kỷ thứ VI, vào năm 580 ông sang Việt Nam truyền đạo được 19 đời. Dòng thiền thứ hai do Vô Ngôn Thông - Người Trung Quốc truyền sang vào năm 820 (chùa Kiến Sơ - Phù Đổng, Bắc Ninh) truyền được 17 đời. Các thiền sư của dòng thiền này rất nổi tiếng đó là Khuông Việt, Thông Biện, Mãn Giác, Minh Không, Giác Hải. Dòng thiền thứ ba do Thảo Đường người Trung Quốc, thuộc Vân Môn tông truyền đạo tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc - Hà Nội) vào thế kỷ XI, năm 1069. Dòng thiền thứ tư là Trúc Lâm Yên Tử (Uông Bí - Quảng Ninh). Năm 1299, Phật hoàng Trần Nhân Tông (Trần Khâm) - Vị vua thứ ba của vương triều Trần (1258-1308), sau hai lần đánh tan giặc Nguyên - Mông đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông. Sau đó, ông đi thuyết pháp nhiều nơi rồi lên tu ở núi Yên Tử dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ (Trần Tung) dựng Chi Đề tịnh xá, thọ trì 12 pháp Đầu Đà. Ông lấy Pháp hiệu là Hương Vân Đầu Đà và Sáng tổ dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Nhị tổ thiền Trúc Lâm là Pháp Loa (Đồng Kiên Cương), Tam tổ là Huyền Quang (Lý Đạo Tái). Hương Vân Đầu Đà có nhiều trước thuật có giá trị trước và sau khi đi tu. Ông cũng là người thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó ở Việt Nam và lập nên Thiền phái Trúc Lâm mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt.  Sau này, ở Việt Nam còn xuất hiện một số thiền phái khác từ Trung Quốc sang như Tào Động (thời Trịnh - Nguyễn), phái Liên Tôn (thế kỷ XVI-XIX), Liễu Quán (thế kỷ XVIII) thuộc phái Lâm Tế. Tuy có nhiều dòng thiền khác nhau nhưng tư tưởng cơ bản của các dòng Thiền Việt Nam đó cũng đều đề cao cái “Tâm” (Citta). Họ cho rằng: Phật ở tại tâm, đạt chân tâm ấy là Niết bàn. Xuất phát từ quan niệm thế giới hiện tượng chỉ là ảo ảnh của bản thể, là vô thường nên lý tính nhận thức về thế giới này chỉ đạt tới chân lý tương đối. Thiền cho rằng cái cần được nhận thức là cái thực tại tuyệt đối đứng đằng sau thế giới hiện tượng. Thực tại tuyệt đối đó không thể biểu đạt bằng ngôn từ, bằng khái niệm. Con người chỉ tiến tới Niết bàn (Nibbàna) tức là trạng  thái thoát khỏi luân hồi khi vượt qua được nhận thức lý tính gọi là Trí Thế Gian (Jnanalan kilam) và cảm nhận thế giới một cách trực tiếp nhất bằng trực giác gọi là Trí Bát Nhã (Prajnà paramita, Namah sarvajnaya). Trên cơ sở đó, Thiền Phật giáo đề ra con đường để đạt tới Trí Bát Nhã. Đó là con đường hướng nội, đảo ngược dòng nhận thức thông thường, từ bỏ hiện tượng, thoát khỏi khái niệm để đạt tới sự thể nghiệm, hội nhập tĩnh lặng vào ý thức tự nó. Nghĩa là, chúng ta đưa nhận thức đi từ cái biết đến không biết, từ phụ thuộc vào hiện tượng tới thoát khỏi giới hạn của hiện tượng. Quá trình đạt đến Trí Bát Nhã là sự tự chứng ngộ của mỗi người chứ không phải bằng nhận thức của người khác, không thể do người khác truyền dạy, không thể chia sẻ với ai và không thể biểu đạt bằng lời.

            Tóm lại, những bài tập đầu tiên của Bồ Đề Đạt Ma truyền thụ đã đánh dấu rất lớn vào việc mang lại nhiều điều mở mang sáng tỏ cho người tập đạo Thiền, trở thành nền tảng Chuan fa (Kempo). Nghệ thuật tự vệ Karatedo và đạo Thiền có sự liên quan mật thiết về nguồn gốc nhằm đi đến giác ngộ (Satori). Nó đòi hỏi người tập Karatedo phải thể hiện triệt để mọi nỗ lực, khả năng sáng suốt của trí óc trong tất cả các suy nghĩ (Mushin) sau đó quên đi và sẽ nhận thức được mọi điều. Thiền và Karate có những gắn kết bởi Thiền chủ trương luôn sống trong hiện tại. Cái hiện tại đó không phải là sự trống rỗng mà tràn đầy sự tỉnh thức chiếu sáng. Trong sự tỉnh thức chiếu sáng đó người tập thấy tâm an, tự tại. Họ không ngoái cổ nhìn lại quá khứ để hối tiếc cũng không mơ tưởng tương lai để mong chờ. Tâm giác ngộ trống rỗng và bất động, nhưng uyển chuyển và bén nhạy vô cùng. Khi tâm bất động, ở vào trạng thái định, thì mọi sự phân biệt đều tự chúng tan biến cho nên mọi sự sợ hãi đều tự chúng tiêu trừ. Thiền không có dụng công mà chỉ thẳng thực chất sự việc, không cần lý luận, nghi thức mà lãnh hội chính bản thân mình. Do đó, khi ứng dụng thiền vào võ thuật sẽ làm cho người chiến sĩ khi tuốt gươm ra trận thì không còn ngoái cổ lại, không còn bị phân tâm khi đối diện giữa sự sống, chết. Người tập phải tập trung lượng định chính xác, đòi hỏi không có dấu vết giận dữ, vất bỏ nỗi sợ hãi và xem đối thủ như người khách quý. Sự luyện tập lâu ngày hữu chiêu trở thành “Vô chiêu”, hữu ý trở thành “Vô niệm” đạt tới trí huệ tự phát có thể kiến giải và đối phó với mọi tình huống một cách sáng tạo. Trong Karate những nguyên lý của đạo Thiền giúp hoàn hảo các chuyển động tự vệ và sự phối hợp trí óc và thân thể. Những nguyên lý của đạo Thiền khi nó đã thẩm thấu trong trí óc sẽ tạo ra cho cơ thể hành động rất hiệu quả và thành một thể thống nhất tuyệt diệu. Nhất là trong một thời điểm cơ thể và trí óc hoà hợp làm một sẽ đạt được thành công to lớn. Đó chính là sự hài hòa được các chất sinh hóa học trong não bộ của chúng ta. Tập thiền là giúp con người điều chỉnh lại nhận thức của mình. Vì chính nhận thức đó đưa đến cho con người khổ não, trầm luân hay là giải thoát. Giữa Võ sĩ đạo và đạo Thiền Phật giáo có nhiều điểm giống nhau nổi bật là những điểm sau đây: Sự đè nén cảm xúc; Thái độ thản nhiên trước những điều không thể tránh khỏi; Thái độ bình tĩnh nội tâm trước bất kỳ tình huống nào; Coi thường cái chết; Sự thanh bạch. Theo Thiền sư Kodo Sawaki: “Zen và Võ thuật là một”. Trong thiền cũng như trong võ thuật đòi hỏi sự khổ luyện không thể tính thời gian để đạt tới sự giác ngộ, thiền là cả cuộc đời, võ thuật cũng vậy. Thực hành thiền là dùng sáu giác quan (Lục căn) gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, đó là cái gốc cho những cái khác nương tựa, nảy nở tạo thành. Chung quanh chúng ta là những hiện tượng biến đổi không ngừng của vật chất, chi phối đến tư tưởng và hành động từng giây, từng phút gọi là Lục trần. Lục căn tiếp xúc với Lục trần mới có sự phân biệt phán đoán tạo ra Lục thức. Từ đó, chúng ta biết và hiểu rõ kinh nghiệm sống của mình. Suy ngẫm tìm về chân tâm giúp quán chiếu Ngũ uẩn (Panca Khandhà) tức là cái Ta kết hợp với năm nhóm của các năng lực vật chất và tinh thần. Đó là: Sắc uẩn (tập hợp những yếu tố vật chất cấu thành thân thể con người gồm các ngũ quan, tay chân và ngũ tạng); Thọ uẩn (gồm các cảm thụ nảy sinh khi ngũ quan và cơ quan tinh thần tiếp xúc với thế giới bên ngoài); Tưởng uẩn (là những tri giác tưởng tượng bắt nguồn từ mối quan hệ của sáu năng lực con người với thế giới bên ngoài); Hành uẩn (là làm, chứa tất cả những hành vi, ý muốn); Thức uẩn (là ý thức hiểu biết). Mỗi Uẩn đều thay đổi không ngừng, nó có tác động ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Mặt khác, nó ràng buộc và phụ thuộc với thế giới bên ngoài. Trong năm uẩn này, sắc thuộc về thực thể, là thân xác. Bốn uẩn còn lại thuộc về tâm, là ý, là ham muốn. Sắc là Tứ đại, gốc của bốn cái kia như Địa, Thủy, Hỏa, Phong (để diễn tả các trạng thái của vật chất lỏng, hơi, nóng, đặc, v.v...) trong trạng thái của các vật thể từ vô cơ tiến đến cái tinh vi của hữu cơ. Sắc có rồi lại mất đó là không. Không trong Karatedo không chỉ là tay không mà là tánh không (Sunyata) của Vạn pháp, là hiện tượng tạo tác rồi biến đổi. Khi một hợp duyên đã khởi và đủ điều kiện chín muồi thì một đối tượng mới sinh ra. Nó biến chuyển từ hình tượng này qua hình tượng khác tạm gọi là Duyên sanh. Không không có nghĩa là trống không mà Không ở đây là do Duyên sanh ở thân Tứ đại phối hợp lại rồi chuyển hóa từ không hóa có rồi từ có đến không,  nó tồn tại giả hợp bao gồm vật và tâm. Không là sự chuyển hóa qua mười hai công đoạn (Hetupaccaya) mà trong triết học Phật giáo gọi là Thập nhị Nhân duyên (Duyên khởi) hoặc Nhân duyên sanh. Nó cũng không mang nghĩa là hư vô. Không là Đạo và Đạo chính là Không. Trong cái Không không phân biệt Ta - Người, Có - Không, v.v… đó là Tâm bất nhị (tức là không thể có hai thế giới). Thực hành thiền là làm chủ được vọng tưởng, không khởi niệm vọng tưởng nữa mà đi thẳng vào cơ chế của “Tánh giác” sẽ đi đến sự giác ngộ. Hakuin Ekaku - Một bậc thầy lớn về thiền đã từng nói “Học về bản ngã để quên đi bản ngã. Khi quên được bản ngã thì bạn sẽ hiểu được mọi điều”. Khi diệt được cái Ta bất trị thì nó không còn điểm tựa, mặt trời Giác ngộ mới bừng sáng từ trong Tâm con người. Một khi cái ngã đã chết thì “Đời sống” mới bắt đầu, đó là một cuộc sống tự tại và an lạc. Trong Thiền tông Phật giáo phủ nhận sự cứu rỗi như một phép lạ bởi nó không hóa giải được nghiệp mà trên tất cả chính là Phật ở tại Tâm, đạt Chân tâm ấy là Niết bàn (là đạt được sự tĩnh lặng, giải thoát, buông xã tham dục, sân, si). Theo các nhà nghiên cứu võ thuật, những thế võ sơ khai của các nhà sư xuất phát từ các tư thế thiền. Những nguyên lý của thiền đã giúp hoàn hảo các chuyển động tự vệ và sự phối hợp giữa trí óc và thân thể. Cái thần của các võ phái phương Đông cũng chính là cái thần của thiền. Những tác phẩm điêu khắc cổ như các pho tượng Bách Phật Đồ (100 tư thế thiền) được thể hiện qua tư thế đứng hoặc ngồi rất giống các võ sĩ Karate nó được miêu tả rất sinh động. Vị trí phía bên phải các pho tượng Phật có những nét nhu nhuyễn, mềm mại nhưng tràn đầy nội lực và bên trái các pho tượng lại mang nét cương mãnh nhưng thanh thoát. Các võ sư Karate đã cho chúng ta thấy rất nhiều kỹ thuật võ học hiện đại trên đó. Qua một tư thế của Karate, chúng ta thấy nó được đặt căn bản trên các yếu tố ổn định và trung chính mà vẫn khoan thai, nhờ đó khí huyết mới lưu thông điều hòa, nội lực mới phát triển, cảm giác mới bén nhạy. Tư thế thiền thật ra chỉ là những hình ảnh thô sơ của các tư thế võ thuật. Các tư thế ấy chỉ thật sự sống động khi có luồng sinh khí của hơi thở (điều tức) mà ngày xưa Đức Thích Ca Mâu Ni đã sử dụng để khai ngộ. Hơi thở đó chính là nguồn sống của thiền và của võ thuật.

 

       2. Bối cảnh phát triển:

       Nguồn gốc và quá trình phát triển của Karate hiện nay được rất nhiều người nghiên cứu cho rằng căn bản nó xuất phát từ Ấn Độ do nhà sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) năm 520 sau Công nguyên đã truyền bá đạo Phật mang vào Trung Quốc đến Okinawa, Nhật Bản và ra Thế giới. 

       Tuy không phải là môn võ thuật truyền thống gốc gác từ Nhật Bản nhưng Karatedo là một con đường - một môn nghệ thuật mà người Nhật đã tâm huyết đem nó áp dụng vào cuộc sống xã hội để giáo dục đạo đức, vun trồng nhân cách, đào tạo con người từ lớp mầm non. Đó là những đức tính tự tin, tự giác, quả cảm, trọng danh dự, đức nhân từ, tính lễ độ, đức chính trực công bằng, nghĩa trung thành, lòng thành thật, sự tự chế, tinh thần trách nhiệm vì lợi ích cộng đồng và văn hóa ứng xử. Họ tự hào nếu như những người Samurai chết đi sẽ như những cánh hoa Anh đào nở trên đỉnh núi Phú Sĩ với màu hoa trắng tinh khiết, như chiếc áo trắng (Gi) của họ sẽ là ánh sáng tỏa xuống làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Hơn nữa, trong cuộc sống, họ tin rằng Karatedo giúp con  người - một “Tiểu vũ trụ” tự điều chỉnh mình hài hòa với thiên nhiên. Tâm niệm của người tập Karatedo luôn hoá giải, ứng xử hài hòa để tâm, trí được an định, bớt tham dục phù hợp với tinh thần hiện đại sống chung hòa bình để cùng phát triển. Ngoài ra, điều này cũng có nghĩa là phải biết tiêu diệt ngay từ trong trứng dục vọng Tham lam, Sân hận, Si mê (Tham - Sân - Si), là nguồn gốc của mâu thuẫn. Do vị trí địa lý và tinh thần độc lập, người Nhật biết sử dụng vào mỗi thời đại những mô hình của nước ngoài, mà không phá vỡ bản sắc riêng: một ý thức về thiên nhiên không bao giờ suy thoái, một thị hiếu mộc mạc không bao giờ giảm sút, một sự khéo léo ngày càng tinh tế. Sự lựa chọn các ảnh hưởng nước ngoài bổ sung cho sự chọn lọc tự nhiên do hoàn cảnh khí hậu, thực vật và địa lý tạo nên, khác với lục địa ít bị lôi cuốn. Ví dụ những kiến trúc đồ sộ của Phật giáo cho ta thấy: ngôi đền Shinto luôn giữ được cái duyên trầm mặc, dáng vẻ mộc mạc của mái rơm và bố cục (Composition) độc đáo của chiếc mái vỏ cây màu sắc hài hòa (Harmonie de couleur) với thiên nhiên không giống kiểu thức trang trí của Trung Quốc. Tuy tinh thần của các ngôi đền, chùa Phật giáo đôi khi có ảnh hưởng nhưng vẫn không gây tổn hại đến truyền thống. Tính bảo thủ Nhật Bản đã giải thích tính tương đối đơn điệu về kiểu dáng kiến trúc trong thời gian cũng như trong phân bố về địa lý. Nhưng ở đây không hề có sự bảo thủ về văn hóa, người Nhật luôn tôn trọng văn hóa nước ngoài, họ làm theo một cách tự do mà không hề có mặc cảm tự ti. Ngày trước xã hội Nhật Bản có ba tầng lớp chính: quý tộc, võ sĩ và nông dân, thợ thủ công. Quý tộc thì nghiêng về hình thức, nghi lễ, tầng lớp thị dân thì thích những cái gì loè loẹt, hình thức bên ngoài. Tầng lớp võ sĩ thì chuộng sự đơn giản nhưng sâu lắng do ảnh hưởng của thiền, họ đã tìm thấy cái đẹp trong sự đơn giản tinh khiết. Giới quý tộc, giới võ sĩ và người nông dân đã xác định bằng những thị hiếu chung, đó là tính độc đáo trong rung cảm. Chính tinh thần thượng võ của giới võ sĩ đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân Nhật Bản, nhờ vậy mà nước Nhật điêu tàn sau chiến tranh trở nên một nước hùng mạnh. Chúng ta cần ghi nhận rằng các nghệ thuật kiến trúc chùa chiền, kịch Noh, thơ Haiku, tranh Thủy mặc, các môn võ Karatedo, Judo, Aikido hoặc Thư pháp thiền (Hitsuzendo), Bonsai, vườn đá (Kare Sansui)… là những sáng tạo độc đáo của tài năng Nhật Bản. Các loại hình nghệ thuật này ít nhiều đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của giá trị thẩm mỹ thiền do các Trà sư, Thiền sư đem lại nên mang những yếu tố thẩm mỹ thiền sâu sắc. Sự vận hành của những thiết chế, cũng như Phật giáo trong thời kỳ lịch sử đầu tiên của Nhật Bản đều được du nhập tiếp nhận từ những vay mượn. Tuy nhiên, nó được mổ xẻ, cải biên sáng tạo và cuối cùng là “Nhật Bản hóa” theo những công thức riêng, độc đáo mang bản sắc dân tộc. Mỗi giai đoạn ảnh hưởng, như ở thời Lục triều thế kỷ VI, thời Đường thế kỷ VII, thời Tống thế kỷ XII và Tây phương thế kỷ XIX, đã tác động như một chất men để làm hồi sinh trí tưởng tượng sáng tạo của người Nhật.                            

           Vào thế kỷ XIV môn võ Shorin Kempo đã du nhập vào đảo Okinawa - hòn đảo lớn của quần đảo Ryukyu. Năm 1372 vua Satto (Sát Độ) của Okinawa kết giao với triều đại nhà Minh Trung Quốc, các môn võ của người Okinawa và Trung Quốc cũng phối hợp để cho ra đời môn võ tự vệ bằng tay không trước khi Karate được hiện đại hóa bởi Gichin Funakoshi. Phong cách Karate của người Okinawa được mọi người đặt tên là Naha - Te, Shuri - Te và Tomari - Te. Những tên gọi này là tên của những thành phố ở Okinawa mà Karate đã được hình thành tại đây từ thuở sơ khai. Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những giả thuyết về nguồn gốc của Karate như sau: Một là nó xuất phát từ các điệu múa vùng nông thôn Ryukyu (Lưu Cầu), mà họ gọi là Dei và viết bằng chữ Hán  (  )  phát triển thành Todei  (  唐手 ). Hai là do tập đoàn người Trung Quốc từ Phúc Kiến truyền sang Okinawa, vì thế mà có tên gọi là Tote (Tuite) (  唐手 ) với chữ To ( Đường) chỉ thời nhà Đường ở Trung Quốc,  còn Te  ( :  Thủ ) nghĩa là "võ" (Tangsho). Ba là theo con đường thương mại tới Okinawa. Vương quốc Ryukyu xưa có quan hệ thương mại rộng rãi với Trung Quốc và các quốc gia  Đông Nam Á. Các môn võ thuật có thể từ các miền đất này theo các thuyền buôn và truyền tới Okinawa. Bốn là bắt nguồn từ môn vật của Okinawa có tên là Shima. Như vậy Okinawa là viên ngọc chính, là nơi khai sinh cho hạt giống Không Thủ Đạo nảy mầm và đơm hoa kết trái. Có lẽ vì vậy ở đây có rất nhiều hệ phái võ thuật khác nhau như: Shorin Ryu, Shaolin Ryu, Goju Ryu, Uechi Ryu, Okinawa - Te, v.v... mặc dù hiện nay Nhật Bản là cường quốc Karate. 

          Trong lịch sử Karate đã có ít nhất hai lần các nhà cầm quyền đã cấm người dân sử dụng các loại vũ khí tại Okinawa. Một lần vào năm 1422 vào thời Hoàng đế Sho Hashi (1371-1439) hoàn tất việc thống nhất các lãnh địa Hokuzan (Bắc Sơn), Chuzan (Trung Sơn) và Nanzan (Nam Sơn) ở Okinawa. Nhưng cao điểm là năm 1470, Sho En (triều Sho thứ hai) để ngăn chặn mưu toan nổi loạn, nhà vua đã ban hành một chỉ dụ cấm sử dụng sở hữu và mang bất cứ môn binh khí nào trên lãnh thổ của ông, ngoại trừ quân đội, các nhà quý tộc và triều đình, ai trái lệnh phải tội chết. Một lần khác vào năm 1609 (triều Sho thứ hai) dân chúng trên đảo chịu sưu cao thuế nặng bởi sự xâm chiếm của Lãnh chúa Satsuma, nhất là lúc quyền lực tập trung trong tay của Tổng đốc Toyotomi Hideyoshi mà dân chúng thời đó gọi là “Cuộc săn kiếm của Hideyoshi”. Người dân chỉ được phép dùng dao khi đã đăng ký mượn trong một thời gian rất ngắn nên từ đó, các hệ phái môn Kempo đã phải hoạt động ngầm. Chính vì vậy mà nghệ thuật chiến đấu tay không đã được truyền bá rộng rãi như là phương tiện tự vệ chống lại kẻ cướp và đôi khi họ chống cả quan lại áp bức. Các lò võ thường được tổ chức một cách kín đáo trong các ngôi chùa, nhằm bảo đảm giữ bí mật, vì nếu bị phát hiện, sẽ bị những kẻ có quyền lực đàn áp buộc phải đóng cửa. Do vậy, người dân đảo này muốn thắng được quân lính có trang bị vũ khí sắt bén họ phải nung nấu ý chí bằng cách hạ thủ đối thủ chỉ bằng một đòn đánh. Qua nhiều năm tháng họ bí mật khổ luyện hằng ngày để biến tay chân và những bộ phận khác của cơ thể thành một thứ vũ khí có sức hủy diệt lớn. Để có hiệu quả của lực công phá, họ phải tập cho chai cứng các ngón tay, nắm đấm như những chiếc sừng, phải xĩa hằng ngày vào thùng đậu dần dần cho đến tận đáy thùng hàng nghìn lần, sau đó được thay cát, sạn, sắt vụn và các vật thể khác. Muốn có được một quả đấm trên 700Kg, hằng ngày họ phải đấm qua thác nước không để ướt tay hoặc chụp bắt những con ruồi đậu trên chén cơm để luyện một đòn đấm, một cú chặt bằng cạnh bàn tay. Muốn có một cú đá trên 1000Kg, họ phải đá hàng vạn lần vào các thân cây, bó mây có tính đàn hồi. Tuy nhiều giai đoạn thăng trầm như vậy nhưng phải đợi đến sau thế kỷ XVII, Karate mới phát triển mạnh. Thời gian này có nhiều người thầy ở Okinawa quay trở lại Trung Quốc để tìm hiểu nhiều loại nghệ thuật chiến đấu. Một võ sĩ huyền thoại người Trung Quốc là Liu Liu Ko (tiếng Nhật gọi là Ryu Ryu Ko), đã dạy Không Thủ tại miền Nam Trung Quốc cho những võ sinh Okinawa. Việc sử dụng Tensho hay kỹ thuật Nhu trong Trường phái Goju đã cho ta thấy rằng trường phái này đã chịu ảnh hưởng bởi phong cách võ thuật “Sếu Trắng” ở Fujian được  gọi là Fujian Bai He.  Từ phong cách Sếu Trắng, Trường phái Goju đã tích lũy được kỹ thuật chuyển động tròn và cách đánh nhanh. Từ phong cách Hổ Quyền, Trường phái Goju đã học được cách tấn công dũng mãnh từ xa và cách tóm bằng vuốt (đặc biệt là trong quyền Kyusho). Đó là một trong những yếu tố cấu thành Karate hiện đại mà Karate nguyên thủy bản địa Okinawa gọi là Tuite (Tote) bao gồm: kỹ thuật móc, khóa chặt, kéo, quăng ném và quét luôn được sử dụng trong chiến đấu trên nền đất. Những kỹ thuật này đã được thực hành rộng rãi tại Ryukyu ở Okinawa, sau đó chúng được hòa trộn với những kỹ thuật chiến đấu khác để cho ra đời Karate. Trong quyền thức của Karate thường sử dụng những tư thế thấp hoặc hai bàn tay chụm lại làm thành một cái hốc (khoan rỗng) là những dấu hiệu cho thấy đó là kỹ thuật của Tuite.

         Vào thế kỷ XIX, quần đảo Okinawa sát nhập vào Nhật Bản. Thời điểm này đã xuất hiện ba nhân vật Không Thủ Thuật (Karate) nổi tiếng vượt hẳn khỏi tước vị Sư Phạm và Quyền Thánh. Các vị thầy này đã phát triển Okinawate (Xung Thằng Thủ) đặt những nền tảng đầu tiên cho các trường phái Karate sau này đó là:

       1) Sáng tổ Kanryo Higashionna (1851 - 1915) phát triển Okinawate tại Naha với Shorei Ryu (Chiêu Linh Lưu).

     2) Sáng tổ Yatsusune Itosu Ankoh (1830 - 1916) phát triển Okinawate tại Shuri với Shorin Ryu (Thiếu Lâm Lưu) là thầy của Gichin Funakoshi - Sáng tổ của Shotokan Ryu (Tùng Đào Quán Lưu).

       3) Sáng tổ Kosaku Matsumora (1829 - 1898) phát triển Okinawate tại Naha, Shuri và Tomari là ba địa danh được xem như chiếc nôi của Okinawa Karate và Không Thủ Thuật. Ở ba nơi này được biết đến với ba danh xưng Naha - Te, Shuri - Te và Tomari - Te.

 

        Có thể nói rằng Karate có ba giai đoạn phát triển. Trong giai đoạn đầu môn võ này chỉ là môn võ cổ truyền của hòn đảo Okinawa được gọi là Okinawa - Te. Bao gồm Naha - Te, Shuri - Te và Tomari - Te. Mãi đến năm 1901, Karate mới được công khai truyền bá trên đảo Okinawa. Môn võ này là sự kết tinh bởi các giá trị văn hóa được hòa trộn và các phương pháp chiến đấu ảnh hưởng môn võ Thiếu Lâm Trung Quốc nhưng qua các thời kỳ hòa trộn đã tinh tuyển, phát triển một hệ thống võ thuật phong phú và khoa học hơn. Tuy vậy, Karate được người ta biết nhiều tại Okinawa từ năm 1372 trước khi ông Yasutsune Ankoh Itosu bắt đầu giảng dạy tại các trường công lập phổ thông vào năm 1901. Ông Itosu đã soạn ra một loạt các bài võ Karate với mục đích giúp dễ hướng dẫn cho nhóm đông người, ban đầu những bài võ này được sử dụng trong các trường phổ thông ở Okinawa để rèn luyện thể chất. Đến năm 1903, môn võ này được Nhật Bản cho phép giảng dạy tại các truờng học và được đổi tên thành Karate Jutsu (Kara giai đoạn này nghĩa là nhà Đường, Te là tay theo tiếng Okinawa và Jutsu là nghệ thuật). Như vậy, chữ Karate Jutsu đã mang tính chất của ba nền văn hóa Trung Quốc, Okinawa và Nhật Bản và tên gọi này vẫn mang hàm ý gợi lại cội nguồn của môn võ. Sau đó, vào năm 1916 môn Okinawa - Te đã vượt đảo Okinawa sang Nhật Bản đánh dấu một thời kỳ quan trọng cho đến Chiến tranh Thế giới lần thứ hai do một giáo viên người Okinawa tên là Gichin Funakoshi, học trò của Yasutsune (Ankoh) Itosu và Azato nổi tiếng ở Okinawa - Te được mời biểu diễn võ công tại Butoku Den, là trung tâm võ thuật của các môn phái Nhật Bản. Thời kỳ này Karate bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tinh thần quân sự hóa đã tạo tính thống nhất cho việc truyền dạy. Không bó gọn trong bài quyền, thực hành Yakusoku Kumite (đối kháng) đồng thời nó xuất hiện cùng các môn: Kendo (Kiếm Đạo), JuJutsu (Nhu Thuật)... Năm 1922, Karatedo được chính thức công nhận ở Nhật Bản và mùa xuân năm này, Gichin Funakoshi trở lại Nhật Bản được ông Tổng trưởng Giáo dục đề nghị biểu diễn tại Đại hội Thể thao Toàn quốc ở Tokyo. Buổi biểu diễn thành công và Gichin Funakoshi được mời ở lại huấn luyện. Sau đó đến năm 1928, Funakoshi đã sắp xếp lại các kỹ thuật chiến đấu của nó với những lý luận mới. Những lý thuyết mới này đã tạo nên một kỹ thuật chiến đấu khác và từ “Đường Thủ” ông đã chuyển âm thành Kara (Ku) “Không”  .  Cách viết   trước đây thường bị hiểu là “Đường Thủ” nên ông bắt đầu từ thay thế chữ   bằng một chữ khác có cùng cách phát âm và mang nghĩa “Không” trong kinh Bát Nhã của Phật giáo và chữ    (Không Thủ) bắt đầu từ đó. Bởi thế nghệ thuật chiến đấu của nó rất khác biệt so với những môn võ ảnh hưởng nó được truyền vào lãnh thổ của Nhật Bản. Một ví dụ đơn giản: nếu các bạn để ý sẽ thấy các động tác kỹ thuật của môn võ Thiếu Lâm có nhiều đường cong mềm mại, dài, dàn trải và đẹp mắt nhưng với Karate là thẳng, ngắn, nhanh gọn, cương nhu phối hợp hài hòa và hoàn toàn mang nguyên lý khoa học. Sau đó, Karate được lan tỏa ra khắp thế giới. Thời gian này, các trường học khác cũng gửi giáo viên sang dạy ở đảo chính Honshu của Nhật Bản và Karate bắt đầu đi vào văn hoá Nhật Bản. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Karate mới phát triển ở Hoa Kỳ, rất nhiều binh sĩ nước này đã học Karate vào những thập niên 1940, 1950. Sau đó, họ truyền bá Karate khắp châu Mỹ đồng thời lan tỏa sang châu Âu và được đưa vào trong các trường đào tạo an ninh, quân đội… Theo họ, Karate là môn võ khoa học và thực dụng với triết lý sống của người phương Đông vốn dựa trên nguyên tắc tổng hợp sức mạnh của trí lực, của cơ bắp, đặc biệt là sức mạnh tiềm ẩn thuộc nội tại cơ thể con người. Nhưng người võ sinh không phải chỉ được dạy học đấm, đá, kỹ, chiến pháp để đạt thành tích, chiến tích cao nhất mà quan trọng là thu thập được từ dũng khí của người võ sĩ song song với việc hoàn thiện nhân cách, hướng tới Đạo - Một con đường của cuộc sống. Họ rèn luyện tinh thần và thể chất với đức tính khiêm tốn, kiên trì nhẫn nại, ý chí mạnh mẽ, có ước mơ hoài bão, có niềm tin trong cuộc sống và luôn coi trọng lễ nghĩa mang tính nhân văn. Karatedo là con đường dẫn dắt chúng ta sống hài hòa với trời, đất và con người. Trong Karate bắt đầu bằng chữ Lễ và kết thúc cũng bằng chữ Lễ. Tuy Karate là một môn võ có khả năng sát thương khủng khiếp, người luyện tập Karate nếu thành công thì sẽ có sức mạnh rất đáng sợ nhưng nó là môn võ giáo dục về lòng nhân ái, tính tự chủ và triết lý: Karate wagi no tas uke (Karate phụng sự lẽ công bằng, tinh thần bình đẳng) và Karate ni sente ni ashi (Karate không ra tay trước). Người nhập môn Karate đầu tiên phải học lễ sau đó là học nhẫn, học tinh thần nhẫn nhịn “Một điều nhịn chín điều lành”, ngộ được chữ “Nhẫn” còn khó hơn thuần thục kỹ thuật và quyền pháp Karate. Mục đích lớn nhất của Karate chính là vừa giúp mình vừa cứu cả đối thủ để tránh được những rắc rối nảy sinh sau đó. Karate chủ trương không tấn công nhưng giúp người bị tấn công. Cao hơn nữa đó là sự khuất phục đối thủ, chứ không chỉ dừng lại ở việc thắng người. Đó là “Dụng ý bất dụng lực”, tức là chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật để chiến thắng nhưng không khuất phục đối thủ bằng Tâm thuật. Tiếp đến là sự cố gắng (Karate như con thuyền đi trên dòng nước ngược không tiến sẽ lùi), sự rèn luyện song song với lòng vị tha và đức khiêm tốn. Trong Karate người học trò giỏi thì không bao giờ phụ thầy và người thầy giỏi thì luôn coi mình là học trò không kiêu căng, ngã mạn, không tự cho mình là hiểu biết tất cả. Danh sư Karate huyền thoại Gogen Yamaguchi đã nói “Tôi luôn luôn vẫn còn là những võ sinh Không Thủ Đạo, chưa bao giờ tôi có thể trở thành những võ sư hoàn hảo cả". Karate là môn võ mang tính nghệ thuật và những quan điểm triết học phương Đông. Những võ sư Karate lão thành cho rằng nếu bạn nhận thức được qua tập luyện thì nó chẳng bao giờ buồn tẻ khi bạn ở tuổi chín mươi. Karate luôn kích thích sự sáng tạo và niềm đam mê suốt đời của bạn, nó luôn luôn mới mẻ như ngày tập buổi đầu tiên ở võ đường. Các bậc thầy Karate cấp cao thường có tâm vô úy, vô tranh, vô thọ họ thoát ra khỏi vòng phiền lụy của cuộc sống.

             Karate đã có từ rất lâu nhưng ở Nhật Bản, các thế hệ tiếp nối đã Đạo hóa như các môn võ và các nghệ thuật khác. Người Nhật thích chữ Đạo hơn chữ Pháp. Người nhập môn Karate đòi hỏi trước hết phải có một căn bản đạo đức, sau đó là luyện tập thân thể cho khỏe mạnh để tự vệ và để hoàn thiện nhân cách. Trong quá trình rèn luyện họ có được những đức tính tốt như luôn khiêm tốn, trung thực, nhẫn nại, luôn cố gắng, hóa giải nóng nảy, phải giữ tác phong đứng đắn để khỏi hổ danh sư môn. Phải có tính tự chủ, có tinh thần trách nhiệm với mọi người và với chính mình để trở thành một người hữu ích, ưu tú trong xã hội. Như vậy, luyện tập Karatedo cũng là một cách tu thân ngoài giáo dục thể chất và tinh thần còn giáo dục lòng nhân ái, bồi dưỡng nhân cách, nhằm phát triển tuệ giác đưa con người đến Chân, Thiện, Mỹ. Tuy nhiên, muốn đạt đỉnh cao đi đến chứng ngộ đòi hỏi người tập luyện phải thực hành liên tục trên một lộ trình nhiều chặng mới hoàn thiện. Karatedo là một môn võ nghệ thuật nên không mặc định mà luôn sáng tạo, mục đích của nó là diệt bỏ tự ngã để đi đến Đạo. Nó càng không phải là phương tiện để đạt thành tích, danh hiệu rồi tự mãn, hãnh tiến dần dần đi tới chỗ mất Đạo. Ngày xưa chữ Đạo trong Ngũ thường (Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) thì chữ Nhân là tiêu chuẩn đầu tiên để thẩm định giá trị đạo đức nhân cách của con người. Đó là những hành động có định hướng đúng đắn hợp lòng người. Từ đó, người không có Nhân tức là không có Đạo, Trước hết, hãy xét trong mối tương quan “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” thì lễ được hiểu theo nghĩa hẹp của Khổng Tử là “Lễ giúp người ta nắm được quy tắc cư xử” (Luận ngữ). Ngày nay, khái niệm lễ được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ có phép tắc lễ nghi đạo đức sống làm người mà còn bao hàm cả con người đối với thiên nhiên nữa. Nói cách khác lễ và văn hoặc võ cũng giống như đức và tài. Chữ Đạo thường không đứng một mình mà kết hợp với một từ khác để mang một ý nghĩa phổ quát hơn: Đạo đức, đạo lý, đạo tâm... Trong Karate - Do, chữ Đạo không phải là tôn giáo mà mang một ý nghĩa khác đó là: “Con đường tốt đẹp trong cuộc sống để hoàn thiện nhân cách, tìm đến an bình và hạnh phúc”, là kim chỉ nam để chúng ta tự rèn luyện tu dưỡng chiến thắng ham muốn hẹp hòi của bản thân. Tóm lại, chúng ta đóng góp, chia sẻ những gì có ích cho mọi người trong đó có mình là Đạo và lối sống cá nhân ích kỷ, hưởng thụ buông thả, xa hoa, khoe khoang, hãnh tiến, thực dụng hẹp hòi, vô trách nhiệm, vô cảm với hoạn nạn kẻ khác, suy thoái đạo đức ngược với đạo lý là không phải Đạo. Chữ Đạo trong Karate phải được dựa trên nền tảng đạo lý và cuộc sống có ý nghĩa của con người, phấn đấu không những thành đạt vật chất mà còn coi trọng giá trị tinh thần. Muốn được vậy con người phải được giáo dục tôi rèn đạo đức căn bản từ lớp mầm non. Được giáo dục thương yêu động vật, thực vật, khoáng vật. Giáo dục lòng hiếu thuận, lòng thành thật. Biết giải quyết mâu thuẫn đời thường một cách đúng đắn và sáng tạo với mọi người và chính bản thân mình. Làm những việc có ý nghĩa và hiểu con người với thiên nhiên là một. Ý niệm về Đạo không cụ thể như ý niệm về Nhân. Chúng ta có thể hiểu một cách khái quát và phổ biến Nhân và Đạo là hai tiêu chuẩn của xã hội để đánh giá đạo đức con người. Tuy nhiên, chữ Đạo trong Karate không những hợp lòng người, ứng xử tốt đẹp giữa người với người mà còn phải biết quan hệ hài hòa với vũ trụ, với trời đất. Sống thế nào để hài hòa giữa Trời, Đất và Người nữa (Thiên - Địa - Nhân) nhưng cũng không sa vào chủ nghĩa Vị kỷ phương Đông, mà phải có sự kết hợp Đông Tây hài hòa đó là con đường đích thực của Karatedo.

              Ngày nay Karate là một trong những bộ môn thể thao tranh giải được đưa ra thi đấu quốc tế. Mặt tích cực của nó là giúp người rèn luyện thể thao có dịp gặp gỡ học hỏi lẫn nhau, khuyến khích tinh thần đồng đội giúp phát triển tính cách, chia sẻ niềm say mê v.v... nhưng bạn chỉ coi trọng vào những thành tích trước mắt, coi trọng được, mất thiếu un tập võ đạo, thiếu rèn luyện tinh thần thượng võ sẽ dễ rơi vào cuồng vọng chuộng hư vinh, thắng người mà quên mất phải tự chiến thắng chính mình. Karatedo và một số môn võ khác được xem là một ngành học chính thống trong ngành giáo dục Nhật Bản. Đối với họ Karatedo là sự nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa... tất cả mọi mặt được phơi bày dưới ánh sáng của các chuyên ngành khoa học tự nhiên và xã hội như Vật lý, Sinh lý, Sinh hóa, Sinh cơ, Tâm lý học, Cơ thể học, Y học thể dục thể thao, v.v… vì đó là con đường của cuộc sống.  Nguồn gốc của Karate nói chung được giới nghiên cứu võ thuật quốc tế đều thừa nhận: Karate là tinh hoa của những môn võ cổ dũng mãnh, nhưng người ta thấy ở Karate là sự khiêm cung, nhẫn nhịn, không hiếu chiến và thù hận. Kỹ - chiến pháp mang tính thực dụng, sáng tạo và khoa học không những tự vệ và rèn luyện sức khỏe tốt mà nó còn giúp cho người tập hoàn thiện nhân cách, hiểu biết nhiều lĩnh vực khác. Tuy có một nét đặc thù hiện đại và mạch lạc như thế, nhưng Karate lại có một quá khứ rất cổ và trong đó chứa đựng rất nhiều những huyền thoại. Tuy nhiên, người ta tin chắc rằng Karate có nguồn gốc từ Ấn Độ phát triển và hoàn hảo dần ở Okinawa - hòn đảo ở phía Đông Nam Nhật Bản. Giữa hòn đảo này và Trung Quốc từ những thời đại xa xưa đã có những mối giao thương thường xuyên nên môn Quyền Pháp được du nhập và hòa trộn với võ thuật bản địa, phần lớn là do những học giả thời bấy giờ. Như vậy, hai lần không một tấc sắt trong tay, dân cư ở Okinawa đã tìm cách kiếm một phương thế để tự vệ không cần vũ khí và cuối cùng đã hoàn thiện môn nghệ thuật chiến đấu: Võ Karatedo (Kara: tánh không, Te: tay, Do: Đạo) - môn Không Thủ Đạo đặc biệt của họ. Các nguyên tắc cơ bản của môn nghệ thuật này dựa trên nguyên lý khoa học và triết lý sống của nó. Cũng có thể nói rằng tất cả những chiến pháp Karatedo được coi là một hành vi chủ động hoặc phòng ngự đều có hiệu quả nếu đạt được tâm trí chính xác của thiền. Học tập những kỹ thuật này chúng ta có thể tự bảo vệ mà không cần sử dụng vũ khí. Ngày nay, Karatedo là một môn nghệ thuật thể thao truyền thống nhưng đòi hỏi phải có sự hướng dẫn đạo đức và nó như là nguyên tắc đầu tiên. Người thầy không chỉ với mục đích đào tạo những vận động viên đạt thành tích cao cho đất nước mà còn phải đào luyện cho người học trò phẩm chất đạo đức. Họ biết tôn sư trọng đạo, biết đối nhân xử thế, có thái độ ứng xử linh hoạt giữa cứng rắn và mềm mỏng của người Võ  sĩ  đạo,  luôn nhẫn nhịn và khiêm tốn,  xem kỹ thuật chiến đấu chỉ là phương tiện và diệt bỏ tự ngã.

Karatedo có hàng trăm hệ phái, có nhiều hệ phái phát triển lớn mạnh trở thành trường phái, tất nhiên có rất nhiều ưu điểm và cũng không ít hạn chế từ những người tập luyện chưa thực sự hiểu biết tường tận về nó. Sở dĩ môn võ này có nhiều hệ phái, trường phái là do hoàn cảnh, địa hình và tính cách của từng con người, từng miền đất, từng dân tộc và sự sáng tạo của người tập luyện mang lại.

Năm 1970, Hiệp hội Karatedo Thế giới W.U.K.O (The World Union of the Karatedo Organization) được thành lập và giải Karatedo Thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Nhật Bản, lần thứ hai năm 1972 tại Pháp và lần thứ ba năm 1975 tại Hoa Kỳ. Năm 1990, các Liên đoàn Karatedo các nước trên thế giới đã họp lại đổi tên thành Liên đoàn Karatedo Thế giới W.K.F (World Karatedo Federation). Hiện nay, tổ chức này có trên 175 quốc gia, Karatedo Việt Nam cũng là thành viên.

Ngày nay Karatedo đã vượt biên giới quốc gia và lan tỏa khắp thế giới không chỉ vì mục đích sức khỏe, nghệ thuật và tự vệ mà bởi triết lý của nó. Tuy có sự nhất quán hệ thống giữa các Hiệp hội Thế giới nhưng cũng có sự khác biệt chút ít về các bài quyền, phương pháp huấn luyện, quy chế thi đấu. Trước hết, chúng tôi tạm chia thành Karate Truyền thống và Karate Chính thống để các bạn dễ đi vào khái niệm.

 

KHÁI NIỆM

1.  KARATE TRUYỀN THỐNG.

          Karate truyền thống theo nghĩa hẹp gồm các hệ phái tuân theo quy tắc Sundome. Quy tắc Sundome tức là chấp hành khi thi đấu phải giữ cự ly nhất định của đòn đánh với tốc độ và sức mạnh tối đa làm cho đối phương chấn động nhưng không chấn thương. Karate truyền thống theo nghĩa rộng chỉ tất cả các trường phái, hệ phái, tổ chức tham gia (trong nước Nhật) và Liên minh Karatedo (quốc tế).

           Karate truyền thống có một số đặc trưng sau:

- Coi trọng lễ tiết, triết học.

- Các bài quyền (Kata) và binh khí theo phong cách cổ điển.

- Phương pháp luyện tập sử dụng nhiều phương pháp từ xưa để lại.

- Tổ chức thi đấu trong thăng đai.

- Chế độ phong đẳng cấp dựa vào số lượng bài quyền và kỹ thuật căn bản luyện tập. Thời gian phong đẳng cấp khác nhau giữa các lưu phái.

- Coi trọng phát triển và sự đóng góp quảng bá cho trường phái.

     Karate truyền thống gồm có:

- Karate cổ truyền (Koden): Gồm các trường phái Karate không bị thể thao hóa. Các trường phái này coi trọng phương pháp luyện tập và kỹ thuật chiến đấu có nguồn gốc cổ ở Okinawa. Đó là các trường phái Kojou Ryu (Kogusuku Ryu), Take No Uchi Ryu, Take No Soto Ryu, Honbu Ryu, Shinto Ryu, v.v…

- Karate Okinawa:  Là các trường phái Karate có đạo đường chính ở Okinawa như Okinawa Goju Ryu, Shorin Ryu (Thiếu Lâm Lưu), Shorinji Ryu (Thiếu Lâm Tự Lưu), Gensei Ryu, Hojo Ryu, Isshin Ryu, Makiwarau Te Ryu, Ryuei Ryu, Shuri Ryu, Shorei Ryu, v.v…

  Trong Karate truyền thống, sau này có bốn trường phái lớn là Goju Ryu (Cương Nhu Lưu), Shotokan Ryu (Tùng Đào Quán Lưu), Wado Ryu (Hòa Đạo Lưu), Shito Ryu (Mịch Đông Lưu) đi theo dòng Karate thể thao tranh giải (Shiai) nhưng áp dụng quy tắc Sundome.

 

2. KARATE CHÍNH THỐNG (FURU KONTAKUTO KARATE)      

     Furu Kontakuto Karate (Full Contact Karate) áp dụng quy tắc được sử dụng đòn đánh trực tiếp vào đối phương khi thi đấu không hạn chế cường độ. Các dụng cụ bảo vệ như mũ, áo giáp khi thi đấu có thể sử dụng hoặc không. Chính vì thế, hệ phái lớn nhất trong Full Contact Karate lấy tên là Kyokushin Ryu (Cực Chân Lưu). Furu Kontakuto Karate được phổ biến ở Châu Mỹ, Châu Âu hơn là ở Nhật Bản. Thi đẳng cấp trong Full Contact Karate căn cứ vào biểu diễn các bài quyền và kết quả đối kháng của những người cùng đăng ký thi.

  Furu Kontakuto Karate gồm có:

      - Kyokushin Ryu bao gồm các chi phái là Kyokushin Kaikan ở Nhật Bản, The World Oyama Karate Organization ở Hoa Kỳ, WKO Shinkyokushinkai, Seido Kaikan ở Nhật Bản, Ashihara Kaikan, các chi phái này phần lớn được huấn luyện trong ngành quân đội và an ninh ở Nhật Bản, châu Mỹ, châu Âu. Kyokushin Ryu còn được gọi là Knockout Karate (Các lưu phái này cho đánh trực tiếp vào người đối phương khi thi đấu, nhưng không được đánh vào đầu).

- Các lưu phái Shinkarate, Daido Juku Kudo, Zendokai cho phép đánh cả vào đầu đối phương khi thi đấu.

  - Ngoài ra còn có một số Chi phái Karate ở Hoa Kỳ trong đó Karate Chuyên nghiệp Toàn Mỹ mà thực chất là Karate kết hợp với các môn Boxing, Kickboxing nên gọi là Karate Mixed (tổng hợp).

   Hiện nay Karatedo dù là chính thống, truyền thống hay thể thao cũng đều phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các vận động viên toàn cầu cùng đến với nghệ thuật Không Thủ Đạo. Tất cả nhằm tạo dựng tinh thần, hoàn thiện nhân cách, chiến thắng bản thân, phát triển tuệ giác, tính trung thực và đúng đắn của nhân loại.

Võ sư PHAN CHI

Huyền đai Đệ Lục đẳng - Ủy viên Biên tập Văn Phòng Chưởng Môn

karatedokaratedo0 2017-12-05 16:09:39
Chỉnh sửa thông tin trên. Vui lòng liên hệ với admin page qua Gmail: hovanban7@gmail.com
Bình luận
Top phản hồi
Bình luận bằng facebook
loadingĐang cập nhật phản hồi
Đăng nhập để bình luận !
9164
lên đầu trang
tin nhắnĐể lại lời nhắn
xin chờ

Đang gửi tin nhắn...